Archive for the ‘Lịch sử’ Category

2011 NĂM CÁCH MẠNG

Tác giả: Nguyễn Hưng Quốc

"Give me Liberty or give me death"-Patrick Henry-Richmond-Virginia 1775

Phần lớn giới sử gia và giới bình luận chính trị đồng loạt gọi năm 2011 là năm cách mạng. Đó là một trong những năm hiếm hoi đánh dấu những thay đổi lớn lao và ngoạn mục trên thế giới. Nhiều người ví nó với hai khúc ngoặt trong lịch sử: năm 1848 với cuộc nổi dậy của dân chúng đòi giải phóng nông nô, đòi bình đẳng và dân chủ, thoạt đầu xuất phát từ Pháp, sau lan rộng sang khoảng 50 quốc gia khác, từ châu Âu đến châu Mỹ La Tinh, được mệnh danh là “Mùa xuân của các quốc gia và mùa xuân của các dân tộc”; và năm 1968 với cuộc xuống đường liên tục và rầm rộ của hàng triệu học sinh, sinh viên và công nhân Pháp nhằm đòi tăng lương, cải thiện điều kiện lao động cũng như quyền tự do và tự trị trong lãnh vực giáo dục và trí thức. Cả ba thời điểm 1848, 1968 và 2011 đều có một đặc điểm giống nhau: những người dân bình thường đồng loạt đứng dậy chống lại chính quyền và thiểu số thống trị họ.

“Năm cách mạng” 2011 bắt đầu từ ngày 17 tháng 12 năm 2010 lúc anh thanh niên bán rau quả Mohamed Bouazizi tự thiêu sau khi bị cảnh sát áp bức ở Tunisia. Cái chết của người thanh niên bị đẩy vào đường cùng này khiến dân chúng phẫn nộ và từ ngày 24 tháng 12, họ xuống đường đòi hỏi công lý. Số người tham gia các cuộc biểu tình càng ngày càng đông. Cảnh sát cũng đành bó tay. Cuối cùng, ngày 14 tháng 1, Tổng thống Zine El Abidine Ben Ali, nhà độc tài từng cai trị Tunisia suốt 24 năm với bàn tay sắt phải trốn sang Saudi Arabia. Cuộc cách mạng mùa xuân hay còn được gọi là “Mùa xuân Ả Rập” (Arab Spring) khởi sự.

Ngọn lửa cách mạng từ Tunisia lan sang Ai Cập. Từ ngày 25 tháng 1, dân chúng bắt đầu xuống đường biểu tình ở Cairo, Alexandria và Suez. Cảnh sát đàn áp dữ dội. Người dân vẫn không khiếp sợ. Họ tiếp tục tràn xuống đường. Càng lúc càng đông. Cả hàng triệu người. Đầy nghẹt trên các đường phố. Cảnh sát, sau đó, đành nhượng bộ. Cuối cùng, Tổng thống Hosni Mubarak từ chức vào ngày 11 tháng 2, chấm dứt 30 năm cai trị Ai Cập một cách hà khắc. Cuộc cách mạng ở Ai Cập thành công sau 18 ngày tranh đấu.

Ngày 15 tháng 2, dân chúng Libya bắt đầu đổ xuống đường phố ở Bengazi chống lại Gaddafi và đã bị trấn áp một cách dã man. Hàng trăm người bị giết chết. Giữa tháng 3, Mỹ và khối NATO quyết định can thiệp. Mấy tháng sau, ngày 20 tháng 10, Gaddafi bị bắn chết, chấm dứt 42 năm cai trị Libya như một bạo chúa.

Cuộc cách mạng khởi đầu từ Tunisia và Ai Cập tiếp tục lan rộng sang nhiều nước khác ở Trung Đông và Bắc Phi với các cuộc nổi dậy rầm rộ của dân chúng ở Bahrain, Yemen, Algeria, Jordan, Morocco, Oman và Syria, và, với mức độ nhỏ hơn, ở Lebanon, Saudi Arabia, Sudan và Western Sahara. Kết quả của các cuộc nổi dậy này thay đổi theo từng nước. Ở Yemen, Tổng thống Ali Abdullah Saleh bị thương trong cuộc tấn công bằng bom của quân nổi dậy, phải sang Saudi Arabia điều trị, sau đó, tuyên bố sẽ chuyển giao quyền lực cho người khác, chấm dứt 33 năm cai trị. Tổng thống Omar al-Bashir của Sudan tuyên bố sẽ không tìm cách tái tranh cử sau khi hết nhiệm kỳ vào năm 2015. Vua Abdullah ở Jordan phải giải tán nội các đến hai lần để xoa dịu lòng dân. Ở Bahrain, chính phủ phải thả các tù nhân chính trị và cam kết thay đổi nhiều chính sách quan trọng. Ở Morocco, chính phủ hứa hẹn thay đổi hiến pháp, tôn trọng nhân quyền và đẩy mạnh các cuộc vận động chống tham nhũng. Ở Kuwait, nội các sụp đổ, chính phủ cũng hứa hẹn dân chủ hóa. Ở Western Sahara, nhiều tù nhân chính trị cũng được thả và thiết quân luật cũng bị bãi bỏ. Ở Algeria, Tổng thống Abdelaziz Bouteflika cũng tuyên bố bãi bỏ thiết quân luật (vốn kéo dài đến 19 năm!) và hứa thay đổi hiến pháp để mở rộng dân chủ hơn.

Cho đến nay, chỉ có cuộc nổi dậy ở Syria là vẫn còn kéo dài và có vẻ đẫm máu nhất. Dân chúng bắt đầu đổ xuống đường biểu tình vào ngày 26 tháng 1. Họ bị chính quyền Bashar al-Assad trấn áp khốc liệt. Hàng ngàn người bị giết chết. Hàng ngàn người khác bị bắt giam. Dân chúng vẫn không sợ. Vẫn ào ào xuống đường phản đối. Chính phủ tuyên bố nhượng bộ: bãi bỏ thiết quân luật kéo dài cả 40 năm, theo đó, chính phủ có thể nhân danh an ninh và trật tự để sử dụng quyền lực bất cứ lúc nào cần, bất chấp những quy định chung của hiến pháp và luật pháp về nhân quyền. Họ cũng cho phép thành lập các đảng đối lập. Tuy nhiên, dân chúng vẫn không hài lòng với những biện pháp nửa vời như thế. Họ vẫn tiếp tục xuống đường tranh đấu. Tổng thống Assad vẫn không chịu rút lui. Cho đến nay, súng vẫn nổ và người vẫn chết. Chính phủ nhiều nơi trên thế giới, kể cả Liên hiệp các nước Ả Rập, Liên hiệp Âu châu và Mỹ kịch liệt lên án Tổng thống Assad và kêu gọi ông từ chức. Chưa ai biết các biến động ở Syria sẽ dẫn đến đâu.

Gọi năm 2011 là năm cách mạng, chúng ta không dừng lại ở các nước độc tài ở Trung Đông và châu Phi. Các cuộc xuống đường của quần chúng xuất hiện ở nhiều quốc gia, kể cả các quốc gia dân chủ hoặc tương đối dân chủ. Đáng kể đầu tiên là các cuộc xuống đường của người dân Hy Lạp. Thật ra, ở Hy Lạp, các cuộc xuống đường lớn đã hình thành từ năm 2008, tái xuất hiện vào năm 2010 và bùng nổ dữ dội vào tháng 5 năm 2011 ở hầu hết các thành phố lớn, từ Athens đến Thessaloniki, Larissa, Patras, Volos, Rethymno, Tripoli và Kalamata. Cuộc biểu tình nào cũng quy tụ cả hàng ngàn, có khi đến hàng chục ngàn người. Nội dung các yêu sách của dân chúng bao gồm từ các vấn đề kinh tế đến xã hội và chính trị, trong đó có vấn đề dân chủ.

Cũng cần kể đến các cuộc xuống đường của thanh niên ở Mỹ cũng như ở các quốc gia phát triển cao trong phong trào gọi là “Chiếm Wall Street” (Occupy Wall Street). Phong trào bắt đầu từ ngày 17 tháng 9 khi một số các nhà hoạt động xã hội biểu tình ở trung tâm tài chính New York nhằm lên án những bất bình đẳng trong xã hội cũng như những ảnh hưởng của tầng lớp giàu có trên các chính sách quốc gia. Họ tự xưng là đại diện cho 99% dân số thầm lặng và thiệt thòi để đối lập với thiểu số 1% bao gồm giới thượng lưu vừa có tiền vừa có thế lực. Cuộc biểu tình ở New York nhanh chóng lan rộng sang gần 1000 thành phố thuộc 82 quốc gia trên thế giới, kể cả London, Frankfurt, Rome và Hong Kong. Ở Úc, phần lớn các thành phố lớn, từ Sydney đến Melbourne, Brisbane và Perth đều có phong trào Chiếm Wall Street.

Cuối cùng, vào đầu tháng 12, nổi bật lên trên các bản tin quốc tế là các cuộc biểu tình đông đảo của dân Nga chống lại Thủ tướng Putin và cuộc bầu cử mà họ cho là gian lận mới được tổ chức. Có cuộc biểu tình quy tụ cả 50.000 người. Hơn nữa, biểu tình không những nổ ra ở Moscow mà còn ở khá nhiều thành phố khác. Đó là những cuộc biểu tình lớn nhất ở Nga kể từ ngày chủ nghĩa cộng sản sụp đổ. Có nơi, như thành phố Novosibirsk, có hơn 4.000 người xuống đường, bất chấp cái lạnh thấu xương (trừ 20 độ C!). Chính vì vậy, nhiều người gọi đó là cuộc cách mạng tuyết (snow revolution).

Năm 2011, như vậy, mở đầu bằng cuộc cách mạng mùa xuân ở Trung Đông và Bắc Phi, và kết thúc bằng cuộc cách mạng tuyết ở Nga. Cuộc cách mạng đầu lật đổ ba nhà độc tài (ở Tunisia, Ai Cập và Yemen), giết chết một nhà độc tài khác (Gaddafi ở Libya) và khiến một số nhà độc tài phải nhượng bộ, cam kết không tham dự các cuộc bầu cử trá hình lần tới. Cuộc cách mạng sau thì chỉ mới khởi phát. Phải chờ đến năm 2012 mới biết kết quả.

Nhưng như vậy cũng đủ làm cho năm 2011 trở thành một năm nổi bật trong lịch sử nhân loại.

Nguồn: Phim Việt facebook :http://www.facebook.com/notes/#!/profile.php?id=100001855505364

Senseless Deaths

Senseless Deaths

On the fateful morning of September 11, 2001
Two airplanes crashed into the Twin Towers
It caught the whole world by surprise and terror

A chaotic scene appeared
Smoke was everywhere
People ran in different directions
Some came out with…
Bloody heads
Cut-off legs
Broken arms

Some were stuck on the high floors
Screaming…
Mommy, help me!
Daddy, help me!
Brothers, help me!
Uncle, help me!
Anyone, help me!

Desperate people jumped out of the high floors
Into a wide-open entrance to hell
That quickly swallowed up their untimely deaths

Why? Why? Why?
Who was responsible for this horrific act?
What were their motives and justifications?
Of course, it could not be in the name of God
All men are equal in the name of God
For God loves all men

Dear God, please stop all these senseless acts
Stop people from killing others for senseless reasons
Stop all these senseless deaths from happening!

Crystal H. Vo aka Nhu Y

32 Năm Người Mỹ Và Tôi

Chen chúc trên chiếc trực thăng


Trương Ngọc Bảo Xuân Abbot

Bà Trương Ngọc Bảo Xuân Abbott, 52 tuổi, hiện cư trú tại Boat City, Marina del Rey, California, là giám khảo ngành Barbering & Cosmetology tại State Board, nơi tổ chức thi bằng hành nghề thẩm mỹ của tiểu bang California.
Trong đợt II Giải Thưởng Viết Về Nước Mỹ, bà Bảo Xuân đã góp loạt bài đặc biệt về ngành thẩm mỹ tại Hoa Kỳ: một ngày chấm thi, một ngày đi dạy, một ngày đi học nghề thẩm mỹ.
Hàng ngày theo dõi bài tham dự giải thưởng, bà Xuân viết: “Thấy thương người, thương mình. Thương tới muốn khóc.” và quyết định “đến phiên tôi kể chuyện nhà cho bạn nghe…”
Đây là chuyện kể 32 năm của một cô dâu Việt, về một chàng Mỹ 17 tuổi, bắt Mẹ ký tên cho đi lính trước tuổi, để sang tận bên kia trái đất “mang tui về trả nợ”, như tác giả Bảo Xuân Abbott nói đùa.
Việt Báo trân trọng cám ơn tác giả và ông Dave Abbott đã cho phép sử dụng một số hình ảnh gia đình kèm theo bài viết này.

Hàng ngàn người. Có thể cả chục ngàn, trăm ngàn, rồi cả triệu không chừng. Những người Việt tan tác khắp nơi, chưa gặp, chưa quen… Lạ thay, khi không bỗng thấy nhau thân thiết. Thân tới mức mang cả chuyện nhà của mình ra kể cho nhau nghe. Toàn những chuyện khổ đau, oan ức, tang thương đã bao năm nuốt xuống. Giải Thưởng Việt BáoViết Về Nước Mỹ hàng ngày cho tôi cảm giác ấy. Khi viết, khi đọc, thấy thương người, thương mình. Thương tới muốn khóc.
Và bây giờ, bạn thân mến,
Đến phiên tôi kể chuyện nhà cho bạn nghe.
Viết về nước Mỹ, được rồi, đang sống ở Mỹ mà. Viết về người Mỹ, tìm đâu cho xa. Tôi muốn nói về người đi bên cạnh tôi 32 năm qua: David, chồng tôi.
Cuộc đời giống như cuốn sách dán hình kỷ niệm. Mấy chục năm gom vô vài trang giấy. Ngược giòng thời gian. Giở lại từng trang…
1968, Năm Mậu Thân
Ngày 28 tháng 5, cư xá Cảnh Sát Phú Lâm A đường Lục Tỉnh quận 6 Chợ Lớn.
Cộng sản tấn công Sài Gòn lần thứ hai, đặt bộ tư lịnh tại khu cư xá Phú Lâm A. Gia đình tôi cư trú tại đây. Ba tôi là Cảnh sát, tùng sự tại phòng Giảo Nghiệm, Tổng nha Cảnh Sát Quốc Gia ở đường Vỏ Tánh, Sài Gòn.
Ba tôi bị cộng quân chận bắt, bắn chết tại chổ. Một viên đứt yết hầu, một viên xuyên bao tử.
Hai chị em tôi chứng kiến cảnh Ba bị bắn chết. Tôi nâng đầu, máu nóng vọt ra. Ngọc Anh đở chân, máu nhểu dài xuống đất. Hai chị em lệt bệt, khiêng, rớt… khiêng, rớt… vừa khóc vừa khiêng thây Ba tôi về nhà. Em tôi mới 15 tuổi, mặt đầy nước mắt, hai bím tóc, bộ đồ trắng loang máu.
Khoảng đường gần 100 thước đó dài, nặng, đau đớn, uất ức, hận thù, khắc sâu vô tim, vô óc, vô suốt cuộc đời chúng tôi.
1969, Giã Từ Các Bạn
Một ngày tháng giêng anh rể tôi đem về giới thiệu người bạn vừa ra lính Hải quân, David. Mới 20 tuổi, mắt sáng, tóc đen xanh, ốm gọn, nhanh nhẹn, rất lịch sự, đàng hoàng. Tôi thấy cảm tình.
Những người bạn học đã vô lính. Mấy đứa bạn gái vừa có chồng, chồng chết trận, tay bồng con thơ; tôi làm việc lương tháng ngàn mấy không đủ may áo dài bận đi làm, lấy đâu giúp mẹ nuôi đám em?
Khi Ba chết, đám em tuổi từ 15,13,10,7,5 và đứa em út (Thúy Phương) chưa đầy 3 tuổi. Má tôi vợ công chức chỉ biết nội trợ. Người chồng tốt, người cha hiền đã bị bắn chết. Con không cha như nhà không nóc. Là chị lớn của lũ em, thân con gái, biết làm sao đây?
Tôi đã nguyện với lòng sẽ tìm đủ cách để đi khỏi nước Việt Nam, khỏi nơi đầy thù hận, đầy bất công, đầy tủi nhục. Và đó, David tới đúng lúc. Chính y sẽ đem tôi ra khỏi vùng u tối và nhờ đó tôi sẽ tìm cách đem gia đình đi luôn. Thôi, giã từ các bạn, tôi rẽ qua ngả khác từ đây.
Tôi nhận lời làm đám cưới với y.
Đang để tang ba. Đám tang với đám cưới, gần quá. Tôi chọn đúng ngày Ba bị bắn làm ngày cưới. 28 tháng 5. Cho trộn lẫn vô nhau, trong tim, trong óc.
Đâu phải lúc tiệc tùng. Tất cả tại nhà, giản dị trước bàn thờ tổ tiên. Không hột xoàn, không vàng bạc, chỉ có lời vái hương hồn Ba. Xin Ba phù hộ cho ước nguyện của con: đem được Má và mấy đứa em ra khỏi địa ngục nầy. Tôi tự hứa sẽ là người vợ tốt suốt đời.
Chúng tôi ở chung với gia đình, trên căn gác nhỏ. David làm việc cho một ông bầu chuyên đem những dàn nhạc hát cho lính Mỹ nghe.
1970, Lần Đầu Tới Mỹ
Tháng 3, tôi sanh đứa con trai đầu lòng, tuổi Tuất , tên Lawrence Long .
Tội nghiệp đứa con so, 7 tháng đã ra đời. Cân nặng có 1 kí 700 gram, nhà thương Đức Chính (đường Cao Thắng) giữ trong lồng kiếng 24 giờ. Giao lại tôi, cô y tá cho hay “bé không biết bú”. Trời đất ơi, tôi biết làm sao?
Má tôi dạy “con nặn sữa ra, lấy cái ống nhỏ thuốc, hút sữa lên rồi nhỏ từng giọt vô miệng nó. Thấy hông, cái miệng nó nhỏ hơn đầu vú, làm sao mà bú bình thường được.”
Nhờ kinh nghiệm và sáng kiến của Má, con tôi qua khỏi mấy tháng đầu hung hiểm.
Lúc đó David làm lương tháng khoảng 3, 4 trăm đô. Một hôm đi làm về, say nhừ, vừa khóc vừa kể:
– Bạn tôi mới bị quân khủng bố liệng lựu đạn, chết rồi. Sống ở đây lúc nầy nguy hiễm quá.
Tháng 11 vừa hết giao kèo y đòi trở về Mỹ.
Chúng tôi đi lo thủ tục đem đứa em trai duy nhứt của tôi theo mà không được. Bởi tôi còn ngây thơ, không biết là đút tiền thì tới đâu củng tới. Đành cắn răng, gạt nước mắt, ôm con theo chồng. Tôi hẹn ngày trở về vì bỗn phận đối với gia đình chưa tròn. Tôi phải tin bên kia đám mây đen vẫn là ánh mặt trời.
Tôi tới Mỹ lần đầu ngày 22 tháng 11 năm 1970, bụng mang thai 5 tháng
Mẹ chồng, chị chồng tên Elaine ra tận phi trường Portland thuộc tiểu bang Oregon đón. Bước xuống phi trường, đèn sáng trưng, rực rỡ. Không khí tưng bừng nhộn nhịp, tôi như con ngáo, thấy mình càng nhỏ bé. Rồi, phố lớn, nhà to, cây đầy trái, rụng đầy sân. Ngồi trong xe hơi rộng rãi tôi cứ lấy mắt mà ngó, mà ước thầm, “phải chi Má với mấy đứa nhỏ qua được!”
Con người ta chỉ một lần sống, tại sao dân Mỹ quá sung sướng , dân mình thì nghèo khổ chiến tranh?
Cầm chùm nho lên ăn, nhớ tới mấy đứa em mà ứa nước mắt !
Cô chồng đãi bữa ăn lễ Tạ Ơn lần đầu tiên. Thịt gà lôi sao mà ngon, ngọt.
Bên chồng thay phiên ẵm Lawrence. Suốt ngày tôi ở ngoài sân sau, hái quít hái bom, vừa hái vừa tiếc hùi hụi mấy trái rụng đầy dưới đất.
Nhà chồng thấy tôi nhỏ xíu, ai cũng thương.
Qua lễ, lái xe xuống thị trấn Coquille thăm người cô thứ nhì. (David có 5 người cô, 5 người chị). Trên đường đi, David ngừng lại thăm mộ của cha; kế bên là miếng đất má chồng đã mua sẵn, dành cho bà.
Ông bà dì dượng chồng cho ở tạm trong cái nhà xe một phòng khoảng hai tuần. Mỗi đêm, leo lên cái giường rộng, không có mùng, trống lốc, trùm liền cái mền điện. Cái ấm nhân tạo không đủ sức ngăn cái lạnh cắt da, cắt thịt.
Nửa đêm nhớ nhà quá, tôi khóc. David ngồi dậy, gởi con cho bà nội, chở tôi ra bờ biển. Biển nầy là biển gì tôi cũng không biết, nhớ nhà quá đâm ra ngu ngơ. Vậy mà y kiên nhẫn, không nói gì, chỉ đem tôi ra biển. Có lẽ y muốn tôi nhìn về hướng Đông?
Một hôm mỏ ác trên đầu con tôi tự dưng nổi phồng lên. Đem vô nhà thương, khi bác sĩ vừa cho biết phải thử nước trong tủy xương sống của nó để định bịnh, tôi ngã cái đùng bất tỉnh. Rốt cuộc cũng không biết bịnh gì. Có thể nó chịu lạnh không quen, cơ thể phản ứng tự nhiên, xương sọ phồng lên để bảo vệ bộ óc bên trong. Báo hại mang cái nợ gần trăm bạc.
Người anh chồng kêu qua Tucson, tiểu bang Arizona, hứa sẽ giúp cho việc làm.
Nghe nói đó là xứ nóng, tụi tôi đi liền.
Gom va ly quần áo, thùng sách tiếng Việt, hình ảnh ,mấy cái nón lá…..gọn gàng trong chiếc xe Uhaul loại nhỏ nhứt, còn rộng rinh. Mùa đông trời lạnh thấu xương, quần áo không đủ ấm, ngầy ngật vì phải vặn máy sưởi suốt đoạn đường dài .
Bụng nặng nề, ngồi triền miên, phải để Lawrence nằm dưới sàn xe.
Tội nghiệp con tôi, tới nơi mình mẩy nó nổi đầy phong đỏ.
1971, Sanh Con Tại Mỹ
Ở tạm nhà cháu Maria, David phải đi làm nghề đổ xăng, lau kiếng xe hết hai tuần rồi mới được vô làm trong hầm mỏ lộ thiên đào chất đồng đỏ, tên Anaconda Copper Mine.
Mổi sáng đi làm, y vừa tra chìa khóa mở máy xe vừa khấn thầm “Nổ máy. Nổ máy. Nổ máy!” Trời còn tối mò, y mặc bộ đồ đồng phục màu xám đen, đầu đội nón sắt, tay xách hộp đồ ăn trưa, mặt mày còn sáng sủa. Buổi chiều về, sau một ngày trộn lẫn với bụi đất cùng mồ hôi, chồng tôi da trắng trở thành da đen!
Việc làm nầy cứ mổi tuần là đổi ca sáng tối. Nhiều đêm y phải bận bộ đồ lót giữ nhiệt (thermal underwear) vậy mà vẩn còn lạnh run. Y lái xe đào và đổ đất, thứ xe có cả chục cái cần sang số, y giải thích nhưng, ngôn ngữ bất đồng tôi cũng không hiểu gì mấy.
Lương một tuần 93 đô, mướn cái nhà hết 90 một tháng. Đây là nghe lời bà má chồng, tiền mướn nhà chỉ nên bằng một phần tư tiền lương tháng thì mới đủ sống.
Tôi đang mang thai, thèm cá kho tiêu, một chai nước mắm kiếm không ra, có khi chảy nước mắt
Chị chồng tên Pat đưa tôi đi thăm thai. Chị phải ẵm thằng lớn ngồi đợi ở ngoài, một mình tôi vô với cô y tá. Cô ta chỉ qua phòng restroom, nói một hơi một tràng. Tôi đoán mò, nghĩ là cổ hỏi mình có mắc đi tiểu hông, tôi liền lắc đầu. Cô ta không chịu, cứ vừa chỉ vừa nói, càng nói tôi càng không hiểu. Khớp quá, tiếng Mỹ văng đâu mất hết trơn. Sau cùng, cô ta chịu thua. Chừng về nhà, bà chị chồng vừa cười ngất vừa kể, David “dịch” lại, tôi mới hiểu ra. Thì ra cô y tá kêu tôi vô tiểu trong cái ly để sẵn, dán giâý lên rồi đề tên mình, đưa cho cổ đặng cổ thử. Quê một cục! Thôi, lần sau.
Thấy tôi gần ngày sanh, chị dặn David sáng trước khi đi làm, đem mẹ con tôi qua nhà, con gái chị, Linda sẽ nấu cho tụi tôi ăn luôn, vừa canh chừng, sợ tôi chuyển bụng bất tử.
Tháng 3 sanh đứa con trai thứ nhì, tuổi Hợi, đặt tên Tommy Phương.
Chỉ sanh thiếu một tháng mà nhà thương giữ nó lại hơn 30 ngày. Nuôi từ 5 pound 3 ounce cho tới đúng 6 pound mới cho về. Thiệt là khác biệt quá đáng giữa nước nghèo với nước giàu. Ở Saigòn mẹ nằm 1 tuần, trả tiền phòng, về là xong. Ở Mỹ, 2 ngày mẹ bị đuổi về, con giữ lại. Sanh xong mắc cái nợ hơn 4000 ngàn đô, trả góp gần 6 năm mới hết.
Được một chuyện hi hữu là hai anh em nó sanh cùng ngày cùng tháng, đứa lớn 11 giờ rưỡi sáng, đứa nhỏ 9 giờ 45 sáng, cách nhau 1 năm. Sau nầy, năm nào làm sinh nhựt hai anh em chỉ tốn một cái bánh, đứa phân nửa .
Không biết có phải lúc mang bầu tôi quá buồn phiền, thèm ăn thèm uống, ảnh hưỡng tới bào thai hay không mà Tommy bụng dạ rất yếu. Cứ bú vô là ọc ra.
Má chồng tôi từ tiễu bang Nevada tới nuôi cho hai tuần. David làm lương ít, chỉ đủ sức mua loại tã bằng vải, xài xong bà má chồng tiếp giặt giũ. Bà cũng chỉ tôi mua loại sữa bột tự pha rẻ hơn.
Nhờ bà mà tôi học được cách làm bánh mì, mứt dâu mứt cam. Bà là người rất khéo nấu ăn.. Khi chồng chết (lúc David mới có 9 tuổi ) bà phải mở một quán ăn nhỏ để sinh sống. Bà dạy:
– Con cần nên học một nghề, nghề gì cũng được. Lỡ chồng có chết bất tử mình còn có thể đi làm nuôi thân và nuôi con. Đừng như má đây, chỉ biết nấu ăn cho nên phải làm nghề đứng nấu bếp, cực lắm.
Tôi thấy lời bà rất đúng vì cứ phải khòm lưng ở cái lò nướng mà lưng bà còng hẵn đi.
Khi Tommy được 4 tháng mấy, thấy chồng cực khổ quá sức, chịu không nổi , tôi bàn nên dọn qua thành phố Reno, tiểu bang Nevada. Thành phố cờ bạc, việc làm có lẻ đở cực hơn ở đây; vả lại, có mẹ có dì dầu sao cũng không đến đổi.
Trên đường đi, đồi non, đồi già, núi đồi đầy sỏi đá mà vương lên hằng hà sa số, ngàn trùng rừng xương rồng. Bông đủ màu trắng toát, đỏ tươi, vàng chói, tím ngát, đẹp quá trời là đẹp. Tôi lính quính kêu :
– Ngừng ngừng ngừng Ngừng cho tôi xuống đào một bụi đem theo.
– Cây của tiểu bang. Đào một cây là bị phạt 500 đô !
– Trời ơi, cây cả đồi mà hổng cho đào một cây. Vậy ngừng cho tôi hái một cái bông.
David tỉnh bơ.
– Bông cũng không được hái.
– Ở đây giữa sa mạc ai mà biết.
– Tôi biết, mình biết. Nhiều người cứ tưỡng nhân viên kiễm lâm không thấy, chừng bị phạt rồi mới nói sao xui quá.
Anh chồng Mỹ biết tánh cô vợ Việt. Y đánh đòn tâm lý là tôi thua liền. Nghe giá 500 đô là tôi làm toán. (500 mua được nhiều thứ. Mua đồ củ đầy đủ : tủ+giường, + chén bát, …..tội gì vì cái bông để bị chính phủ ăn.) Vậy là tôi im.
Thiệt xứ sở gì mà luật lệ quá gắt gao. Nhưng, phải đụng vô túi tiền thì thiên hạ mới sợ. Với lại, nếu ai cũng như tôi, thấy bông thì hái, thấy cây thì đào, rừng nào chịu thấu, lấy đâu để lại hậu thế chiêm ngưỡng?
Tới nơi, chúng tôi phải ở tạm dinh thự của nhà triệu phú, Mr. Hardy, nơi má chồng tôi đang làm quản gia cho ông. Ông là người hết sức tử tế. Ngày xưa ông là kỹ sư ngành hỏa xa. Trong phòng khách còn treo một chùm đèn bằng pha lê hình dạng giống như chùm đèn ở Tòa Bạch ốc nhưng kích thước nhỏ hơn, đã được ông cựu tổng thống Roosevelt trao tặng.
Đi xin việc làm, ngày nào về David cũng vừa lo lắng, vừa buồn vừa tức tối. Thời buổi đó, dân Mỷ đang cơn sôi động, chống chiến tranh, đòi chồng đòi con . Họ nhìn chúng tôi, một cựu quân nhân về từ Việt Nam và người đàn bà Việt đã chiếm chổ một công dân của họ bằng những con mắt lãnh đạm. Sự thù hằn, ghét bỏ đó là chuyện thường tình của thế gian. Tôi thường khuyên chồng:
– Tôi hiểu người Mỷ lắm. Họ mất chồng, mất cha, mất con, mất người yêu, sự đau khổ ở nước nào cũng ngang nhau. Đừng nên để tâm. Cứ kiên nhẫn đi xin, thế nào cũng có việc làm.
Đúng như vậy, David được nhận làm người giữ an ninh cho casino tên Nevada Club .
Vài tháng sau tôi kiếm người giử con, cũng đi làm trong casino The Nugget, nhiệm vụ đổi tiền cho khách. Nếu có sự hiểu biết như bây giờ, tôi đã không bỏ con đi làm như vậy. Tiền kiếm ra có giữ được đâu. Thời gian qua rồi là không trở lại. Các con lớn lên mình không gần gũi nhiều, tiếc thay!
Tuy cả hai cùng có công ăn việc làm, chúng tôi sống như chân không chấm đất. David thường hay uống rượu say sưa, tôi vô cùng buồn bã. Lúc đó, David coi tôi như… không khí, hổng cần giử cũng chẵng mất đi đâu. Trong vòng mười mấy tháng, dọn nhà mấy lần. Và cũng mấy lần, tôi muốn bồng con đi. Rồi tôi nhớ lời nguyền của tôi trước bàn thờ ngày cưới. Rồi tôi nhớ lời Má tôi hay nói:
– Ba năm là tình, ba chục năm là nghĩa.
– Đồng vợ đồng chồng, chuyện gì củng xong.
Rồi tôi nhớ lời Ba tôi khi còn sống:
– Nhịn đi con ơi (Thôi được, nhịn một chút cho con có cha có mẹ)
Rồi tôi nhớ lời thầy tôi (soạn giả Lê Hoài Nở, dạy ở trường Quốc gia âm nhạc và kịch nghệ , đường Nguyễn Du, Saigòn). Thầy đã dạy:
Chồng giận thì vợ làm lành
Miệng cười tủm tỉm……rằng anh giận gì ?…
Chồng bước tới, vợ bước lui,
Bước lui một bước, êm xuôi cả nhà.
Tôi tự nghĩ: “Không có trường dạy làm chồng, làm cha, làm vợ, làm mẹ. Ai cũng phải tự học cho nên cần một thời gian hơi…lâu.
1973, Trởà Lại Việt Nam
Tháng 2 năm đó, một buổi chiều đi làm về, David hớn hở hỏi:
– Muốn về Việt nam không?
– Muốn chớ, mà sao hỏi vậy?
– Hiệp định Paris. Việt Nam hóa chiến tranh. Không coi tin tức à?
– Tôi coi chương trình Seeseam Street. Đang học tiếng Mỷ mà. Tin hồi nào?
– Mới đây. Mình sửa soạn về Việt Nam.
Mượn tiền má chồng đủ mua ba vé máy bay rưỡi (phải đi trước khi Tommy hai tuổi vì trên hai tuổi phải mua nguyên vé).
Về lại Việt Nam, đọc báo, tôi biết đây là thời gian nhà báo văn nghệ sĩ “xuống đường”. Tôi không hiểu rỏ nghĩa “xuống đường” là gì. Đây cũng là lúc tôi đọc được những sách “Giaỉ khăn sô cho Huế” của nhà văn Nhã Ca và cuốn “Mùa Hè Đỏ Lửa” của Phan Nhật Nam.
Theo lời con em Ngọc Anh, đang là thời gian thi hành hiệp định bốn bên: gồm Mỹ, Nam Việt Nam , Bắc Việt, Mặt trận giải phóng. Mỹ đang từ từ giãm viện trợ, rút cố vấn, rút quân Mỹ, thu xếp trả tù binh.
Vì mừng quá, chúng tôi không cần biết gì về tin tức chiến tranh. Sống gần gia đình ngày nào hay ngày đó.
David được nhận làm cố vấn cho binh chủng Hãi quân, ngành truyền tin, với tính cách công tra dân sự, đóng ở vịnh Cam Ranh. Tôi gởi hai đứa nhỏ cho mấy em, theo chồng kiếm nhà ở. Đi mà tôi đã quên một điều: gia đình tôi, chỉ là những người xa lạ đối với hai đứa nhỏ. Tommy vì nhớ cha nhớ mẹ, nó bịnh nặng, nằm thoi thóp, tưởng đâu tiêu rồi. Lúc đó má tôi theo mấy dì buôn bán quần áo con nít ở chợ Cầu Ông Lảnh. Buổi chiều về , má bồng nó đi bác sĩ liền, nó mới còn tới ngày nay. Thiệt tình, tôi làm mẹ quá dở.
Mới đầu, ở sau nhà đại úy Đương ( chủ cây xăng gần cây số 9 ngoài cổng căn cứ Cam Ranh) Vài tháng sau dọn vô ở khu đài thu sát bãi biển, và cuối cùng ở Trung tâm Hãi quân (Market Time).
Đây là thời gian vui nhứt của đại gia đình. Má với mấy đứa em thay phiên nhau lên chơi. Bãi biễn Cam Ranh đẹp vô cùng. Có đảo Bình Ba có chợ Đá Bạc . Nhờ ở đây tôi mới biết và thấy những con rùa biển lớn bằng cái bàn ( dân địa phương kêu là con Vích ). Cam Ranh cũng là một trong ba chổ trên trái đất giống rùa nầy lên đẽ trứng. Có một đêm theo mấy người lính rình coi . Nó đào lỗ, rặn một hơi cả trăm cái trứng, móp móp, ướt ướt, rồi dùng hai cái chân lấp đất , dấu xong, bò trở xuống biễn. Mấy người lính đào lên đem về. Đôi khi, họ bắt luôn con rùa.
David hay nói :
– Sao người ta không chừa vài cái trứng. Ăn hết như vậy làm mất giống rùa !
Ngoài con rùa biển lớn còn có con kỳ nhông màu đỏ . Sau nầy về Mỷ tôi mới biết người Mỷ khám phá ra loại nầy dùng để chữa bịnh. (bịnh gì quên rồi )
Đám em tôi theo mấy người lính, nói thịt rùa đỏ tươi ăn như thịt bò,kỳ nhông cũng ăn thử, khen ,như thịt gà!. Thiệt, mấy đứa em tôi ăn uống ” dã man”.Tôi sợ, không dám ăn. Ở đây, nghe nói cũng là xứ nhiều cọp. Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận mà. Trong khu căn cứ còn có một cái hồ cọp thường xuống uống nước. Mỹ đặt tên là Tiger Lake.
Ngày 9 tháng 8 Tổng Thống Nixon từ chức.
Chúng tôi ngày nào cũng vùng vẫy dưới biển. Ăn món gì cũng ngon. Lúc đó David làm lương tháng chỉ trên 400 đô. Đâu có sao. Cha mẹ vui thì con cái cũng vui.
1974, Rút Hết Về Mỹ
Cuối năm, tháng 12, một ngày sửng sốt. David về, hối hả:
– Sửõa soạn về Mỹ.
– Cái gì ? Sao vậy?
– Mỹ phải rút hết. Mình có nghe đài Hoa Kỳ không? Nó đệm bãn nhạc White Christmas suốt ngày là hiệu báo Mỹ dân sự phải rút hết.
– Trời đất ơi, đi liền sao?
– Đi liền. Về Sài gòn làm thông hành cho con.
Thử thời vận lần thứ nhì, tôi ra bộ nội vụ hỏi cách thức đem thằng em trai duy nhứt theo. Họ cho biết đem em không được, nhứt là con trai, con riêng thì được.
Vậy là, tự nhiên tôi có hai đứa con gái riêng ( xin chính phủ Mỹtha thứ cho tôi) .
Tin chiến sự cho hay quân Trung Cộng dùng đầu đạn hỏa tiển ( Guided missle ) bắn chìm một chiến hạm Mỹviện trợ cho Việt Nam ( chiếc Destroyer Escort), chỉ sống sót một quân nhân . Trung Cộng ỷ mạnh hiếp yếu chiếm đoạt đảo Hoàng Sa, một cái một!
Ngày 24 tháng 12 năm 1974 chúng tôi trỡ về Mỹ.
Tới Louisana ở tạm nhà bà chị.
David xin được việc làm, tài xế lái xe đào đất cho hãng thầu xây cất nhà cửa, loại nhà 25.000 đô một căn . Những tưỡng cuộc sống tạm yên, nào ngờ, nền móng xây xong, David bị layoff.
Tôi nhớ ngày đó, sự thất vọng và tức tối hiện rỏ trên mặt, nước mắt muốn trào ra của y.
Anh rể còn trong Hãi quân, chị tôi theo chồng. Chúng tôi trơ trọi.
“Giải pháp Reno” là có nhiều hy vọng. Lại kêu gọi tới má chồng gởi xuống 500 đô.
Bạn hãy tưỡng tượng hai người lớn, bốn đứa nhỏ cùng quần áo đồ đạc chen nhau trong chiếc xe nhỏ xíu, trong tay có khoảng 675 đô, vượt hơn 1,500 miles. Nửa chừng xe bị gảy nhíp ngừng sửa, tiêu hơn trăm rưỡi. Dọc đường chỉ đậu ở chổ bải xe hàng , nghỉ đở 1, 2 tiếng. Ăn uống luôn trong xe, David lái một mạch 72 tiếng đồng hồ, xuyên qua mấy tiểu bang,giửa trời bảo tuyết!
Tới Reno 1 giờ trưa.
Đậu xe bên lề đường David đi bộ tới Casino để tìm việc. Ngồi lâu nóng ruột dặn hai đứa em coi chừng cháu , tôi cũng xuống xe đi lòng vòng coi có việc gì làm đại hay không. May mắn tôi được nhận liền chân bồi phòng ở nhà trọ tên Caravan.
Khi trỡ lại xe đã quá 3 giờ. David đi tới đi lui, tức tối:
– Đi đâu vậy? Tôi có việc làm, phải bắt đầu lúc 2 giờ, bây giờ trể rồi, ai mà cho vô nữa.
– Không sao, tôi có việc, ngày mai bắt đầu.
Tìm chổ ở. Motel Atlas, một phòng ngủ, có bếp nhỏ, tủ lạnh
Chiều hôm sau tôi đi làm về, David mặt mày một đống:
– Hôm nay tôi đi nộp đơn lảnh tiền thất nghiệp. Nó làm như mình đi xin vậy. Tôi không trở lại đó nữa đâu.
– Thì cũng phải ráng chớ sao. Lảnh tiền đó trong khi chờ kiếm việc. Chẳng lẽ để mấy đứa nhỏ đói?
Chúng tôi sống chật vật như vậy hết một lúc. Bạn ơi, đây là thời gian khủng hoảng, xuống tinh thần nhứt. Lương tôi một tuần 63 đô, trả tiền phòng hết 60, còn lại bao nhiêu? Mổi ngày dọn phòng, khách để lại cho mấy chục cents, một đô là mừng lắm.
Tôi bán đầu tiên cái kiềng trơn hơn một lượng chưa từng đeo, rồi cặp nhẩn vàng Má tôi cho trước khi đi, rồi cặp nhẩn xoàn má chồng cho.
Mổi tuần mua hai hộp cereal hiệu Captain crunch loại hột tròn tròn có đậu phọng ( thằng con lớn tới bây giờ vẩn còn nhớ mùi vị đó) 1 đô 10 ổ bánh mì, loại bánh mì gần ngày hết hạn , nhưng vì ăn trừ cơm cho nên mau hết, không sợ hư ! hai hộp mức, hai keo đậu phọng nát, hai hộp cacao pha sửa, một bịt gạo hai cân ( chỉ nấu cháo ) nhiều bắp cải, có khi 1, 2 con gà là món ăn của 6 người. Củng may, hai đứa em đi học , được ăn uống đầy đủ, mỗi ngày để dành đem về cho hai đứa cháu mấy trái cam trái bom , vài cái bánh !
Còn nhớ một ngày bà dì chồng mời ăn bửa tối. Thiệt là một bửa ăn nhớ đời, đang đói mà!
Chồng tôi, người Mỹ, sống trên đất Mỹ mà cũng trãi qua thời gian đói khổ, cũng như quí vị sau tháng 4 năm 1975 .
Tôi lại mắc thêm một lời thề nữa. Tôi thề sẽ không để con tôi đói khổ…
Từ đây, tôi tập nhìn đời bằng con mắt khôi hài, chuyện gì cũng thấy nhẹ bớt đi. Và rồi cái đói khổ không kéo dài lâu.
Tôi xin được việc làm trong một hãng may màn, tấm trãi giường, áo gối, đồ làm bếp…
Có biết may vá gì đâu. Có lẻ họ nhận vì cái mặt Á Đông của tôi. Ngày đầu tập sự tôi hỏi việc cho chồng , gặp ông giám đốc tử tế, y đắn đo một hồi rồi nói:
– Thông thường chúng tôi không nhận vợ chồng làm việc chung, nhưng lần nầy tôi phá lệ. Việc gì cũng đủ người rồi nếu chồng you muốn thì vô làm việc sắp đặt máy may,dọn dẹp hãng.
– Thiệt là…. Đội ơn ông.
Mổi ngày tôi ngồi vật lộn với cái máy. Máy gì chạy lẹ quá trời ! Vừa đặt miếng vải vô nó làm một cái rẹt níu không kịp.
Mổi ngày nhìn anh chồng Mỹ cầm cây chổi quét hãng mà ứa nước mắt.
Sau một tháng đi làm khi trời còn tối, về nhà thì trời đã tối rồi!, hết việc dọn hãng.
David hỏi ông giám đốc :
– Trong hãng việc nào làm lương cao nhứt ?
– Trừ việc quản lý, chỉ còn việc làm sữa máy may là lương cao.
David nói:
– Tôi có kinh nghiệm sửa máy kéo tiền trong Casino. Ông cho tôi thử nghề sửa máy may trong hai tháng, nếu làm không xong tôi sẽ tự động xin thôi.
Ông Harvy, người ân nhân đã mất năm 1977. Chúng tôi không bao giờ quên ơn ông. Ông biết nhìn người, ông đã khởi đầu, hướng dẫn nghề nghiệp, cho chồng tôi có cơ hội xữ dụng khã năng ,vượt qua cảnh nghèo.
1975, Thắt Ruột, Thắt Gan
David được lên chức phụ tá quản lý.
Bắt đầu từ tháng ba Ngọc Anh gởi thơ với tin tức chiến sự, càng ngày càng sôi động Miền Nam thật sự trong cơn dầu sôi lửa bỏng. Qua tháng tư , mổi ngày coi tin tức, thấy bãn đồ chử S bị màu đỏ nhuộm lần lần từ vỉ tuyến 17 xuống miền Nam, ngày nào ba chị em tôi cũng khóc. Sự lo sợ, nóng ruột nóng gan không còn nghi ngờ gì nữa, màu đỏ xuống tới Xuân Lộc, rồi Long Khánh, miền Nam lọt vô tay cộng sãn là cái chắc.
Ngồi may mà nước mắt tuôn ra, tới nổi cô bạn nhỏ người Hong Kong, tên Siu Woo, chịu không thấu. Sẵn máy sẵn vải dư, nó may liền một cái túi, đi vòng vòng hãng xin tiền đồng nghiệp cho tôi. Thiệt có gặp cảnh khổ mới thấy người có lòng, nhứt là người nghèo. Nó xin được hơn trăm bạc. Rồi bà má chồng và ông giám đốc tốt bụng, cho chúng tôi mượn tiền gởi chị tôi cùng chồng trở về Việt Nam tìm cách rước gia đình. Nhưng, máy bay chỉ hạ cánh ở Thái Lan vì đã được lịnh không thể đáp xuống Việt Nam. Vậy là hết đường !
Đài truyền hình loan báo chiến hạm My õneo ngoài khơi, ai ra tới sẽ được vớt. Lộ trình di tãn, người ta chết trên đường lộ, chết chưa ra khơi, chết từ trên không trung rớt xuống. Một máy bay di tãn trẻ mồ côi bị Cộng quân bắn hạ, mấy trăm trẻ chết hết.
Đau đớn biết bao cho những người lính Cộng hòa đã bị bỏ lại. Càng coi càng thắt ruột thắt gan.
Cuối tháng Tư, trong tình trạng vô cùng tuyệt vọng, kể như sẽ không còn nhìn thấy mẹ và mấy đứa em nữa. Thình lình, đêm 29, khoãng 2, 3 giờ sáng, má chồng tôi kêu, nói, có người nào từ phi trường Hawaii cho hay má và mấy em đã rời Việt Nam.
Thủy quân Lục Chiến Mỹ làm hàng rào nhân sự, cầu không vận giờ chót đã bốc gia đình tôi ra khỏi địa ngục. Mừng quính, David liên lạc được với phi trường, nghe tiếng
thằng em tôi:
– Cả nhà đi đuợc, chưa biết chắc đi đâu, họ nói Wake gì đó, em hổng hiểu, sợ quá.
David nói :
– Rồi, nó đưa qua đảo Wake , căn cứ quân sự.
Mừng thôi là mừng. Sau cơn mưa, trời sáng sủa hơn..
Mấy ngày sau, biết chắc những người trong chuyến bay đó đang ở trại Pendleton, California. Chúng tôi đi rước về. Gia đình tôi ở trại chỉ có vài ngày.
Về Reno, đài truyền hình Eye Witness New và đài số 2 tới tận nhà phỏng vấn.
Qua ngày sau, má và ba đứa em tôi vô hãng may làm, đài truyền hình lại tới quay phim, báo chí đăng hình, viết bài chúc mừng, gia đình tị nạn đầu tiên. Thiệt đúng là báo có đăng đài có nói đàng hoàng.
David nói với tôi:
– Tôi không tin tôn giáo nhưng đây là lần đầu tôi đã cầu nguyện.
Lúc đó vì mừng quá, đem gia đình ra khỏi trại sớm quá, chúng tôi không hiểu gì về quyền lợi mà chính phủ Mỹdành cho dân tị nạn. Chúng tôi chỉ biết có một điều là qua được rồi thì đi làm nuôi thân và trả nợ. Tội nghiệp Ngọc Anh, Kim Loan và Tấn Long thằng em trai mới có 17 tuổi là tuổi có thể trở vô trường, phải đi làm. Chỉ có Kim Phượng, Hoàng Thư và Thúy Phương được tiếp tục đi học.
Dân chúng Mỹ, chồng con về rồi, lòng nhân đạo họ củng mở ra.
Thời gian nầy là lúc người Việt tị nạn có đủ chuyện vui về việc tự dịch tiếng Mỷ. Hiểu sao dịch vậy, giãn dị gọn gàng.
Đưa tay chỉ vợ, chàng giới thiệu với người Mỷ:
– This is my house (đây là nhà tôi)
Ai làm gì sai, lắc đầu, xí xóa :
– No star where (không sao đâu)
– The wind hit him (nó bị trúng gió)
Bạn còn nhớ hôn?
1976, Sợ Cái Nghèo Đeo Đuổi
Sanh đứa con gái út, tuổi Thìn, tên Elizabeth Xuân. Hơn hai thằng anh, con rồng nầy ở đủ tháng đủ ngày. Nó uốn éo, nó vùng vẫy, nó nhào lộn, nó cân nặng 6 pound 12 ounce, sanh 6 giờ sáng.
Được chuyện nầy mất chuyện kia. Sợ con đói khổ, sợ cái nghèo đeo đuổi, sanh mới hai tuần tôi mướn người giữ con, đi làm lại.
Hai đứa rồi, thêm đứa thứ ba, đứa con gái mà David từ lâu mong đợi, tôi cũng đã bỏ bê nó cho người giữ.
Có phải vì lý do đó mà sau nầy lớn lên có chuyện gì buồn nó chỉ tâm sự với bạn mà thôi. Bây giờ nghĩ lại tôi vô cùng hối tiếc.
Sang năm 1977, dọn qua California. David làm Giám đốc hãng Barth&Dreyfus.
1978, làn sóng thuyền nhân
Sang năm 1978, Việt Mỹ được thư từ qua lại.
Làn sóng thuyền nhân tràn ngập các đảo nước lân cận. Cuối năm, cả đại gia đình dọn xuống North Carolyna mở thêm chi nhánh. Làm ra tiền mà chổ ở quá buồn.
Cuối năm, dì Năm cho hay chính quyền giải toả nghĩa trang Phú Thọ Hòa , phải lấy cốt Ba. Má tôi dặn đem đốt rồi gởi vô chùa. Dì Năm cho đứa con trai vượt biên, qua đảo Bulabidong an toàn.
1979, Trận Cuồng Phong David
Năm nầy, dì Năm cho hay cha con tụi tôi sẽ gặp nhau. Đó chỉ là cách nói bóng gió cho biết dì sẽ mang theo tro cốt của ba tôi đi vượt biên. Chừng không nghe tin tức của dì mà chỉ nghe tin thời tiết về trận bão chúng tôi lo lắng vô cùng.
Trận cuồng phong (hurricane ) trớ trêu thay lại có tên là David, khủng khiếp, tàn phá, giết hơn 1,100 dân vùng duyên hải đảo Caribbean. Bão dữ sóng thành nhận chìm biết bao thuyền nhân.
David liên lạc với hội Hồng Thập Tự, họ cho biết tin dữ : chiếc tàu Minh Hãi khởi từ Cà Mau đã không tới bến. Hơn 20 người bà con cùng dì Năm ôm bình tro cốt ba tôi, chìm sâu đáy biển. Ba tôi chết lần thứ hai! Một lần vì chiến tranh. Một lần vượt biên.
Nghe tin, không biết phải làm gì. Thấy tôi ngồi chết lặng cả buổi trong xó nhà, David ra xe lái đi. Y đi tìm chỗ làm thủ tục đứng tên bảo lãnh hai gia đình thuyền nhân Việt Nam.
Ở North Carolyna, tôi đã gặp nhiều cựu quân nhân, thương phế binh Mỹ trở về từ Việt Nam. Một người da trắng, mặt mày bị cháy bởi bom napaln, không còn hình dạng mắt, mũi nữa… Một người da đen, tay chống nạng, ông nói:
– Tôi để lại một chân bên xứ của cô.
Bạn nghe đau lòng không?
1984, dọn hẳn về California
David nhảy từ hãng nầy qua hãng nọ, chổ vài tháng, không hài lòng với việc làm. Hùn hạp với một người Đại Hàn mở hãng in vải, lổ vốn, đóng cửa .
Thất nghiệp. Y bỏ uống rượu. Nhất định không chịu xin tiền thất nghiệp. Năm nầy là năm thất thời thất chí của y. Ngồi trước TiVi, không đổi đài, hồn lạc đâu mất tiêu. Nhiều đêm, y ngồi dậy, lâu lắm, không nói gì. (Sau nầy nghe người ta nói cựu quân nhân Mỹ tại Việt Nam thường bị flashback, có nghĩa bị hình ảnh quá khứ ám ảnh, hổng biết dịch tiếng Việt là gì.)
Tôi cũng không khá hơn. Ở nhà lãnh tiền thất nghiệp. Vừa may em tôi, Thúy Phương, đem cuốn sách dạy về ngành Thẫm Mỹ cho tôi dịch mướn, kiếm thêm chút đỉnh!
1987, Má Chồng Mất
Việt kiều bắt đầu trở về Việt Nam thăm nhà.
David làm cho hãng Design Collection (DC) chuyên mua bán, xuất nhập cảng hàng vải.
Tôi đậu bằng thẩm mỹ, ở lại dạy cho trường.
Giữa năm, má chồng tôi mất. Trước khi chết bà dặn không được mở nắp hòm.Bà muốn con cháu nhớ lúc bà còn sống chớ không nhớ tới cái xác vô hồn. Thôi rồi!
Bà đi trước khi được thấy sự nghiệp thành công của con trai. Cũng không kịp cho tôi nói lời cám ơn, thưa với bà là đứa con dâu Việt Nam của bà đã có nghề nghiệp chuyên môn, khỏi phải lo đứng bếp như lời bà từng dặn.
Còn đâu nữa những buổi ăn ngon lành thuần túy thức ăn Mỹ. Những ngày lễ lớn, nếu tụi tôi không đi thăm được, bà luôn luôn gởi thùng bánh trái tự tay làm cho con cháu. Tôi nhớ những lúc túng quẫn, bao giờ tụi tôi cũng kêu gọi tới bà. Lòng mẹ thương con dân tộc nào cũng như nhau. Từ đây, bà đã nằm kế bên ngôi mộ người chồng yêu dấu.
1988 – 1990
David lao đầu vô việc làm. Mổi tháng đi Nửu Ước hoặc South Carolina một tuần. Tôi cũng lo việc của tôi.
Hai đứa con trai tới tuổi vị thành niên, tuổi nguy hiểm. Bắt đầu nếm mùi lo buồn vì con cái. Lỗåi chúng tôi phần nào vì đã không biết dạy dổ tụi nó đúng cách.
1990. Bà chị thứ tư của David mất vì bịnh đứng tim.
1991, David Bị Kích Tim
David bị heart attack (kích tim) vô nhà thương mấy tuần. Hậu quả của gần 30 năm hút thuốc. Hút càng ngày càng nhiều. Việc làm càng khó khăn, căng thẳng, y càng cố gắng.
Chưa từng biết gì về computer nhưng với kinh nghiệm làm việc, y đã điều hành, kiểm chứng cho chuyên viên lập ra một chương trình để xử dụng trong hãng. Từ lúc hãng mới mở cửa năm 1986, việc ít, người ít, mọi sự đều làm bằng tay. Cơ sở phát triển lên hàng trăm nhân viên, phải điều hành bằng hệ thống điện toán.
Vì trách nhiệm, vì việc làm đòi hỏi sự quan tâm thường xuyên, y đã quên thân mình. Một ngày hai bình cà phê, ba gói thuốc thì thân nào chịu nổi. Bác sĩ cho biết nếu không tự săn sóc lấy mình thì y sẽ không sống tới ngày có cháu!
Sợ chết ,y bỏ hút thuốc. Một cái một. (y nói nhỏ không muốn bỏ tôi lại một mình)
Tôi làm giám khảo ngành thẩm mỹ.
Chiến tranh giữa Kuwai và Iraq bùng nổ.
Hai đứa con trai nói “khi quốc gia cần tụi con sẽ đi lính ” dù ba nó đã cho biết sự sai lầm của chính bản thân. Tôi quá lo sợ, sợ cho tới ngày Tổng Thống Bush rút quân về.
Con gái tôi bắt đầu cãi cha ghét mẹ. Khi buồn nó chỉ tâm sự với bạn mà thôi. Lỗi tại tôi, ham làm việc, ít gần gụi nó.
Diện con lai, gia đình HO bắt đầu qua Mỹ.
1992 – 1993
Lawrence vừa đi học vừa đi làm. Đứa con trưởng có tánh tự lập từ nhỏ. Có em sớm, nó cũng sớm biết nhường nhịn, thường ngồi chơi một mình.
Còn nhớ Tommy, lúc mới mấy tháng biết nhìn ai là mẹ rồi, tối nào tôi cũng phải ẵm nó từ 8 tới 9 giờ rồi bỏ vô giường thì nó mới chịu ngủ.
Vậy mà vù một cái, năm 1993, tôi cưới dâu trưởng, gốc Quảng Đông, tên Elaine.
1994 – 1996
Hảng DC chia ra chi nhánh lấy tên DIVION 92, David đươc một phần trong bốn phần hùn. Y vừa làm chủ hãng DIV 92, vừa làm phó giám đốc cho hãng chính DC.
Cuối 1994, Tommy vô hãng làm việc cho cha.
Sang năm 1995, con dâu có bầu. Đứa đầu không giữ được.
Tôi cứ suy nghĩ hoài. Có thể nào, vì Agen Orange (chất độc mầu da cam từng xài quanh các căn cứ Mỹ ở Việt Nam thời chiến) ảnh hưởng máu ông nội, qua tới đời cháu? Chẳng lẽ hậu quả của chiến tranh đeo đẳng theo phá hoại tới đời con cháu?
1996, Thêm Công Dân Hợp Chủng
Elaine có bầu lần thứ nhì. Lần nầy thì mẹ tròn con vuông. Chúng tôi có cháu nội gái tên Emily.
Vậy là, xứ sở có tên Hợp chủng quốc thêm một công dân hợp chủng. Emily có 3/4 máu Á Đông, máu Mỹ còn có 1 phần. Nếu theo cái đà nầy, vài thế hệ tới nước Mỹ sẽ không còn da trắng, đen, vàng, đỏ, nâu nữa mà sẽ có cùng chung một màu …lờ lợ. Với cháu nội, tôi muốn sửa lại những sai lầm, thiếu sót cũa tôi khi nuôi con, tất cả thì giờ rảnh tôi dành cho nó.
1997, xuống tàu, “ra riêng”
Elizabeth vô hãng làm phụ tá cho David.
Tụi tôi để nhà lại cho vợ chồng Lawrence. Mua chiếc tàu dài 28 feet, “ra riêng”, sống luôn trên tàu. Kể như chúng tôi ăn trái do mình trồng, bây giờ có dư chút đỉnh tiền, y dụ tôi mua chiếc tàu để thỉnh thoãng đi câu cá. Tôi chìu theo dù không biết lội.
Ai mà ngờ ngày ký tên nhận tàu, cũng là ngày tụi tôi ở luôn trên con tàu neo giữa Boat City tại Marina del Rey…. Không khí mát mẻ, tôi dứt chứng bịnh dị ứng mũi kinh niên. Từ ngày ở trên tàu không còn phải xài thuốc thông mũi nữa.
Sang năm 1998, con tim của David có vẻ chịu gió biển, không thấy lên cơn bất tử nữa. Công việc “xuôi chèo mát mái” y đòi đổi chiếc tầu 38 feet. Tôi lại phải gật. Sống trên mặt nước là ước muốn từ lâu của y. Có con tầu riêng đúng ý, David vui vẻ coi là “mộng đã thành.”
Nhìn y vui, tôi nhớ đủ thứ. Chẳng có giấc mộng nào tự nhiên mà thành. May mắn không đủ. Núi cao có núi cao hơn. Lúc nào chúng tôi cũng tự hỏi “Mình có làm đầy đủ nhiệm vụ chưa” để khỏi phụ công ơn của những người trên đường đời đã một lần nào đó, giúp mình.
1999, Vĩnh Biệt Elaine
Trước ngày lễ Tạ Ơn, nhận tin chị Elaine đang hấp hối. Tới nhà chị, tụi tôi quẩn quanh trong 4 ngày. Đây là lần thứ hai tôi chứng kiến mạng người chênh vênh giữa sự sống và chết.
Khi Ba tôi bị bắn, cái chết thời chiến đến thình lình, tức tưởi, tê dại. Chị Elaine chết trong cảnh an bình. Đứng lặng bên giường chị, tôi thấy sự hấp hối, lấy hơi lên, hớp từng hớp không khí mà không nghe hơi thở ra, cho tới hớp không khí cuối cùng. Thình lình, tim ngừng đập.
Chị mất, tuổi mới 53. Tro tàn chị dặn hãy đem rải trên ngọn núi Table Rock ở Medford, nơi chôn nhau cắt rún. Một cuộc đời, chỉ sống loanh quanh nơi thị trấn nghèo nàn, buồn thiu. Sống giản dị, chết cũng giản dị.
Còn nhớ mới ngày nào chị cùng má chồng ra sân bay rước tụi tôi, năm 1970. Tôi gặp chị vào lể Tạ Ơn, nay chị xa tôi cũng vào dịp lể nầy! Thoắt cái. Ba mươi năm. Thôi rồi, xong một đời người. Vĩnh biệt Elaine.
2000, Sau 32 Năm
Ngày 28 tháng 5 năm 2000, ngày giỗ Ba tôi.
Sau 32 năm, nhìn đám con nguyên vẹn 7 đứa (chị tôi đi xa không về kịp) cùng gia đình sum họp, có lẽ Má tôi, chen lẫn trong buồn nhớ là sự hài lòng. Bàø đã không uổng công ở vậy nuôi con. Mấy chị em tôi, dù con cháu đầy đàn, vẫn luôn luôn quẩn quanh bên Má. Tôi không đủ chử nghiã để viết về người mẹ. Bà là người đã tạo cho tôi lòng tin và sự cứng rắn. Chính bà là chỗ dựa để tôi đứng lên vững hơn mổi lần bị đời đạp xuống. Má tôi đã lên chức Bà Cố từ lâu.
Tháng 6, tôi có thêm đứa cháu nội gái tên Charlotte. Đứa lớn giống mẹ đứa nầy giống cha. Đứa cháu lớn nói tiếng Tàu thiệt là giỏi. Tiếng Mỹ khỏi học cũng biết. Tiếng Việt nói gì nó cũng hiểu, mà còn mắc cở miệng. Năm nay tôi cho nó 2 cuốn băng học tiếng Việt, má nó cùng học luôn thể. Mới 4 tuổi rưởi mà nó ma le lắm. Khi nào muốn tôi chơi với nó, nó sẽ giở giọng nhõng nhẽo ra ” bà nội, lại đây” bằng tiếng Việt có bỏ dấu đàng hoàng (giỏi hơn ông nội) lòng tôi mềm nhũn liền.
Khi nhận tin người anh rể chết bất thình lình, tôi nhớ ngày anh mang David về ngôi nhà cũ ở Phú Lâm giới thiệu. Anh chính là “ông mai” của chúng tôi. Tôi biết ơn anh.
Cho tới ngày nay, David cũng chỉ nói được vài tiếng Việt không bỏ dấu.
Tôi xào đồ ăn, y nhắc:
– Put alot of Cu Hanh ( để nhiều củ hành).
Mỗi lần ai hỏi về “Chuyện gì xảy ra ở ‘Nam'” y trả lời:
– Mình rút, mình thua. Vinh hạnh gì mà khai? Tôi thấy xấu hổ…
Tôi không nhìn người đàn ông đi bên tôi là người ngoại chủng, chỉ thấy một người chồng, người cha, lòng tốt lấp đi tật xấu. Y bắt buộc ba đứa con phải nói tiếng Việt để tỏ lòng kính trọng người mẹ Việt và gia đình bên ngoại.
Đó bạn, “chuyện nhà” chúng tôi, cũng ba chìm bảy nổi như bao câu chuyện khác.
Qua kinh nghiệm sống hơn ba chục năm, tôi thấy nước Mỹ chuộng người siêng năng, cầu tiến, cố gắng và biết chụp cơ hội. “Ngồi mà chờ thời, đời nào mà thành.”
Tôi hay chọc David :
– Nước Mỹ nợ nước Việt Nam, cho nên phải cưu mang người Việt. Má tôi hơn 75 tuổi còn sáng suốt, ăn uống đầy đủ, bịnh hoạn đã có bác sĩ, nhà thương lo. Các em tôi có công ăn việc làm đàng hoàng. Còn you, you nợ tôi, you tình nguyện vô lính lúc chưa tới 17 tuổi, bắt mẹ phải đi ký tên, đi tuốt qua bên kia trái đất, rước tôi về đây để trả nợ.
Y nịnh:.
– Nợ tình. “I love you từ kiếp trước”. Nợ tiền trả lần lần cũng hết. Nợ tình thì anh trả suốt đời. Kiếp nầy không xong trả thêm kiếp sau.
Vậy là sau bao năm coi vợ như… không khí, y bắt đầu hiểu ra là không khí cũng có chút giá trị.
Vợ chồng, khi hiểu được điều nầy, thường đã…quá đát. David nay không còn ốm gọn, mà y như cái thùng phuy. Tôi cũng đã tròn như cái gối ôm, đâu còn nhỏ xíu, mỏng manh như khi đứng bên y trước bàn thờ Ba tôi năm nào.
Trong trận cuồng phong David năm 1979, mạng sống hàng ngàn người và thuyền nhân đã bị nhận chìm, trong đó có dì Năm và tro cốt Ba tôi. Tất cả chìm tan nhưng biển vẫn còn đó.
Hàng ngày, tôi đang là “tàu nhân” sống ngay trên biển.
Đứng bên David, người chồng Mỹ cùng tên với trận cuồng phong, nhìn biển, nghe tiếng sóng xô, lớp sau đùa lớp trước, tôi hiểu điều tôi khấn nguyện và tự hứa năm xưa vẫn được Ba tôi liên tiếp nhắc nhở và phù hộ.
Giao thừa 2001
TRƯƠNG NGỌC BẢO XUÂN ABBOTT

Sài gòn-Đài Loan thập niên 1960

Sài Gòn “Hòn Ngọc Viễn Đông”:

Lúc đó Đài Loan “ăn lông ở lỗ”:

Đài Loan

Đài Bắc

Đài Bắc

Đài Bắc rực rỡ ngày nay

Nguồn ảnh Đài Loan: Blog Lê Trung Thành-sinh viên ngành kiến trúc tại Đài Loan

Hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ USS Midway mở khu triển lãm vĩnh viễn về cuộc di tản 30/04/ 1975

Going to Vietnam for the Fall Saigon 1975

Hàng không mẫu hạm USS Midway trên đường đến Việt Nam tham gia chiến dịch di tản. Lưu ý tất cả chiến đấu cơ trên mẫu hạm được thay thế bằng những chiếc trực trăng. Ảnh : fallofsaigon.org
Phần nghi thức bao gồm lễ thượng kỳ, quốc ca Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, lễ mặc niệm. Ðây là lần đầu tiên cờ Việt Nam Cộng Hòa được kéo lên trên một chiến hạm Hoa Kỳ. Trong phần khai mạc khu triển lãm vĩnh viễn có lời phát biểu của các ông Larry Chambers, hạm trưởng USS Midway thời gian 1975, và Vern Jumper chỉ huy trưởng không lực trên mẫu hạm. Một số trong những người tị nạn năm xưa sẽ có mặt và kể lại câu chuyện họ được tàu USS Midway cứu vớt như thế nào. Tiếp sau nghi lễ là một chương trình văn nghệ đặc biệt với các nghệ sĩ Việt Nam. 

Hiện vật đáng chú ý nhất trong khu triển lãm là một chiếc máy bay quan sát O-1 Bird Dog, cùng loại chiếc máy bay mà Thiếu Tá Không Quân Việt Nam Cộng Hòa Lý Bửng, chở vợ và 5 con, đáp xuống USS Midway hồi năm 1975. Ðây là lần đầu tiên một máy bay không trang bị phương tiện đáp trên mẫu hạm, không có móc ở đuôi để mắc vào dây cáp giữ lại, và do một phi công chưa từng được huấn luyện về kỹ thuật đáp trên tàu, đã thành công trong việc khó khăn này với một máy bay chở quá tải. 

Trả lời phỏng vấn của cựu phi công Lý Bửng trên một tờ báo Việt ngữ ở Mỹ gần đây:  

* Anh bay từ đâu ra hàng không mẫu hạm và vào ngày nào? 

– Tôi bay từ Côn Sơn. Đầu tiên tôi bay từ Tân Sơn Nhất ra Côn Sơn ngày 29-4, rồi từ Côn Sơn bay ra hàng không mẫu hạm ngày 30-4. 

* Anh bay bao lâu thì thấy hàng không mẫu hạm? 

– Khoảng nửa tiếng hay 45 phút thì gặp chiếc USS Midway. 

* Nếu không gặp, máy bay của anh có đủ nhiên liệu bay qua Thái Lan không? 

– Nếu ở sát biên giới Thái Lan thì được, còn ở Sài Gòn, Biên Hòa, Nha Trang hay Côn Sơn thì không đủ nhiên liệu bay qua Bangkok. 

* Vậy khi gặp hàng không mẫu hạm, anh làm gì? 

– Tôi xin nó cho mình đáp xuống, nhưng khổ nỗi trên máy bay của tôi không có vô tuyến để liên lạc với dưới hàng không mẫu hạm, nên tôi cứ bay vòng vòng xung quanh nó và dùng các phương pháp mình đã học để áp dụng cho nó hiểu mình xin đáp nhưng chẳng thấy dấu hiệu trả lời! Sau đó tôi nghĩ ra cách viết ghi chú cho họ hiểu là tôi xin đáp. 

Đầu tiên tôi cột vào con dao và bay sát con tàu, tôi mở cửa liệng dao xuống. Nó đụng sàn tàu, tưng lên rơi xuống biển. Sau đó tôi làm cái thứ hai, thứ ba, cột vào dây súng thảy xuống, cũng rơi luôn xuống biển. Lần thứ tư, tôi cột vào khẩu P38, bay thật thấp và liệng xuống. Lần này nó không rơi xuống biển. Tôi nhìn thấy một người chạy lại lượm lên coi và chạy biến đi, không biết đi đâu. Sau khi xuống tàu, được biết khi lượm và đọc ghi chú của tôi, họ chạy ngay lên báo cho hạm trưởng. 

Tôi bay mấy vòng nữa quan sát thì thấy họ đang dọn dẹp mấy chiếc trực thăng đậu trên phi đạo cho gọn lại, lúc đó tôi biết họ đồng ý cho mình xuống. 

* Trên máy bay L-19 anh chở những ai? 

– Máy bay L-19 chỉ có một chỗ cho hoa tiêu, một chỗ cho người quan sát, nhưng tôi “chơi” luôn bảy người là tôi, vợ và năm đứa con. Chính điều này làm người Mỹ rất sợ vì chở quá trọng tải 

Chiến dịch di tản bắt đầu

Chiến dịch di tản bắt đầu. Ảnh : fallofsaigon.org 

Trong buổi họp báo, đứng bên hai tấm hình chụp những người di tản đến tàu Midway, ông McGaugh cho biết bảo tàng viện rất cần có thêm những hình ảnh chụp vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 và những ngày sau đó của người tị nạn Việt Nam đến định cư ở Hoa Kỳ. Trong dịp này ký giả Nguyễn Tú A đem tới tặng một chiếc máy chữ xách tay hiệu Olivetti mà 35 năm trước ông đã mang theo khi di tản bằng trực thăng đến mẫu hạm Midway. Ông Nguyễn Tú A cũng tự nguyện tham gia vào việc thu thập hình ảnh, tài liệu cho bào tàng viện bằng cách kêu gọi những ai có thể đóng góp, nếu cần biết hỏi thêm chi tiết gì hãy liên lạc với ông qua điện thoại: 714-822-6069 hoặc e-mail: nguyentua@gmail.com. 

Cuộc di tản kết thúc, USS Midway trực chỉ Hoa Kỳ chở theo 105 chiến đấu cơ không quân VNCH. Ảnh : fallofsaigon.org

Cuộc di tản kết thúc, USS Midway trực chỉ Hoa Kỳ chở theo 105 chiến đấu cơ không quân VNCH. Ảnh : fallofsaigon.org
Hàng không mẫu hạm USS Midway (CV-41) được Hải Quân Hoa Kỳ đưa vào sử dụng năm 1945 sau Thế Chiến II, tới 1992 giải ngũ và từ năm 2004 về neo tại cảng San Diego trở hành một bảo tàng viện nổi. Chỉ trong năm đầu tiên, Bảo Tàng Viện USS Midway đã có gần 900,000 khách lên thăm. 

Chiếc máy chữ Olivetti được trao tặng cho Bảo Tàng Viện USS Midway

Chiếc máy chữ Olivetti được trao tặng cho Bảo Tàng Viện USS Midway, trong buổi họp báo của ông Scott McGaugh đại diện Bảo Tàng Viện USS Midway. Ký giả Nguyễn Tú A, bên phải, đã mang theo chiếc máy chữ xách tay kiểu rất quen thuộc này tại Việt Nam gần nửa thế kỷ trước, khi lên trực thăng từ Sài Gòn tới chiến hạm Midway ngày 30 tháng 4, năm 1975.
Ảnh : Hồng Châu/Người Việt 

Hàng không mẫu hạm Midway thuộc Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ đã cứu vớt và di tản hàng ngàn người Việt tị nạn cộng sản vượt thoát ra biển đông, đưa họ đến Hoa Kỳ bình an vào những ngày cuối của cuộc chiến, trong chiến dịch “ Operation Frequent Wind nay đang cập bến tại tại 910 North Harbor Drive, San Diego, Ca 92101 để chuẩn bị lễ tưởng niệm 30/04/1975”.

Trong chiến tranh Việt Nam, USS Midway có mặt trong những giai đoạn then chốt, lần thứ nhất, năm 1965, khi Hoa Kỳ bắt đầu trực tiếp tham chiến và oanh tạc Bắc Việt, tới Mùa Hè Ðỏ Lửa năm 1972, các máy bay của Midway góp phần vào việc thả mìn phong tỏa bờ biển Bắc Việt, năm 1975 trở lại trong “Operation Frequent Wind” và là chiến hạm chính trong Hải đội 76 thi hành cuộc di tản bằng trực thăng từ Sài Gòn. 

Di tản

quân nhân Mỹ chờ lên trực thăng

đồng bào miền Nam khăn gói hoảng loạn

phi trường Tân Sơn Nhất hỗn loạn ngày 30/04/1975

Chen chúc trên chiếc trực thăng

 

 

chờ đến giờ lên tàu di tản

Trực thăng chuẩn bị đưa người di tản ra chiến hạm

Xem thêm hình ảnh buổi lễ tưởng niệm tại đây : 

http://picasaweb.google.com/Hai.Tran18/Midway# 

Nguồn:báo tq-báo Người Việt
BL chú thích
 

Entry liên quan: Xem Video tưởng niệm 30/04/1975 : 

memories of 30/04/1975  

Video Sài gòn đẹp lắm, Sài gòn ơi!”  

Hình ảnh-Tem thư Sài gòn trước 1975 

Quái hạm Independence 

Em còn nhớ mùa xuân 

Cuộc di dân lịch sử của dân Bắc Việt năm 1954

Bài thơ kỉ niệm

đồng bào miền Nam khăn gói hoảng loạn

Bảo Trân

Cố nén mãi, cũng khôn cầm nước mắt
Dấu mặt vào tay, uất nghẹn trong lòng
“Giã biệt Sài Gòn”. Bật tung tiếng khóc!
Khi con tàu lướt gió, vượt không trung

Ngày ly xứ vừa tròn hai mươi tuổi
Trắng tay không – hành lý bước vào đời
Ngơ ngác quê người, rưng rưng tiếc nuối
Những êm đềm, mộng tưởng đã xa xôi

Giờ chấp nhận nơi này – quê hương mới
Qua bao năm, đất lạ vẫn ngậm ngùi
Mỗi Tháng Tư, sinh nhật về tiếp nối
Thêm một ngày – nước mắt lặng thầm rơi

Sài Gòn – Tháng Tư, chập chùng kỷ niệm
Chẳng thể xóa nhòa, chẳng thể phai phôi!
Gửi nỗi niềm vào những dòng thơ nhỏ
Sài Gòn – Tháng Tư, nhớ mãi, trọn đời…

Entry liên quan:Em còn nhớ mùa xuân

Hình ảnh lễ truy niệm chiến sĩ Hải quân VNCH hy sinh bảo vệ Hoàng Sa ở Little Saigon

Các Cựu Hải Quân VHCH đang rước Quốc Quân Kỳ trong lễ truy niệm các chiến sĩ Hải Quân VNCH đã hy sinh để bảo vệ Hoàng Sa trong trận hải chiến vào ngày 19 tháng 1 năm 1974 tại Hoàng Sa giữa Hải Quân VNCH và Trung Cộng được long trọng tổ chức tại Công Viên Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ hôm Chủ Nhật, ngày 17 tháng 1 năm 2010 với sự tham dự của hàng ngàn Cựu Quân Cán Chính VNCH, các dân cử Việt Mỹ và đồng hương Việt.

Đông đảo bà con người Việt tập hợp trong khuôn viên tượng đài chiến sĩ Việt Mỷ cùng với hội Hải quân Cửu Long đứng ra điều hợp buổi lể tượng niệm anh linh các chiến sĩ QLVNCH đã chiến đấu anh dũng, hy sinh kiêu hùng để bảo vệ từng tất đất biển trời của tiền nhân để lại cho con cháu

Trời chuyển mưa những đám mây màu xám che kín cả bầu trời vùng Little SG không làm sờn lòng những người con của đất mẹ VN trong ngày lể trọng đại này, dù trời bắt đầu có những hạt mưa bụi và hứa hẹn những hạt mưa có làm ướt áo chúng ta như những hạt lệ của triệu triệu người VN tiếc thương cho anh linh tử sĩ Hoàng Sa _ Trường Sa những người lính không phân biệt màu cờ vàng hay đỏ, đã đem xương trắng máu đào trả nợ núi sông

Đây là mô hình tuần dương hạm HQ16 Lý thường Kiệt, được các chiến sĩ hải quân thực hiện, là 1 trong bốn chiến hạm của hải quân QLVNCH đã tham gia hải chiến Hoàng sa 36 năm về trước

Ca sĩ Việt Dzũng trong màu áo đen tưởng niệm Hoàng sa của đoàn Hưng Ca

Đoàn xe Jeep có đội mô tô của luật sư Đổ Phủ và cảnh sát Westminster hộ tống

đội mô tô của luật sư Đổ Phủ

Trước đó lúc 12 giờ trưa giờ địa phương, tại hội trường thành phố Westminter đã diễn ra buổi hội thảo về Hoàng sa, cựu tư lịnh Hải quân VNCH Trần văn Chơn nhận quà lưu niệm của Hội Hàng hải

tư lịnh Hải quân VNCH Trần văn Chơn nhận quà lưu niệm của Hội Hàng hải

Xe Jeep quân cảnh mở đường, cho xe kế tiếp đưa cựu Đề đốc tư lịnh hải quân QLVNCH Trần văn Chơn từ Bolsa trở về khu vực hành lể .

Entry liên quan:

Trung tá Hải quân Đặng Quang Lạc tường thuật trận hải chiến Hoàng Sa 19/01/1974

Văn tế anh hùng tử sĩ Hoàng Sa

(nguồn:anh Hai Cần Thơ,Việt báo daily)